Hạn chế của dịch vụ đo lường khán giả

 

Thông thường việc đo lường khán giả vì chi phí cao nên số mẫu nghiên cứu trong TV Panel khoảng từ 250 - 500 hộ gia đình, tùy vào số người trên hộ của mỗi thị trường.

ở Việt Nam với số người trên mỗi hộ gia đình trung bình là 4 người, thì TV Panel có số mẫu cá nhân tương đương với khoảng 1000 thành viên, nếu chia đều cho 5 nhóm tuổi chính và 2 giới tính như: 4-14 tuổi, 15-24, 25-34, 35-49, 50+, và giới tính nam, nữ thì Panel có khoảng 10 nhóm khán giả, mỗi nhóm có số mẫu 100 người.

Việc đo lường này chỉ phục vụ cho việc phân tích các nhóm khán giả đại trà kết hợp 2 biến ( giới tính & độ tuổi, Nữ 15-24,…) chứ không thể phân tích cho các nhóm khán giả chuyên biệt trên 3 biến (giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp). Ví dụ khán giả là các đối tượng kinh doanh, đối tượng là Nam 35- 49 tuổi và làm giám đốc doanh nghiệp, Hoặc Nữ 25-34 có xe hơi,… với những nhóm chuyên biệt này vì số mẫu trong mẫu nghiên cứu nhỏ nên kết quả số liệu khi phân tích không có ý nghĩa về mặt thống kê.

Tuy nhiên trong thực tế thị trường khán giả và thị trường tiêu dùng ngày càng phân khúc mạnh tạo ra rất nhiều nhóm khán giả và người tiêu dùng khác nhau. Sản phẩm và thương hiệu ngày càng tập trung vào những nhóm người nhỏ hơn. Do đó các nhà lập kế hoạch cần phải có những nghiên cứu riêng biệt về thói quen truyền thông của các nhóm nhỏ chuyên biệt này để có số liệu cho việc quyết định các lựa chọn vể chiến lược và kế hoạch truyền thông phù hợp cho những nhóm chuyên biệt này.

Một hạn chế khác là khi đo lường khán giả kể cả hai phương pháp đo lường bằng nhật kí truyền hình hay bằng thiết bi đo lường bằng máy thì khi đo lường khán giả chỉ thống kê các chỉ số người xem, mà không thu nhận các ý kiến của khán giả để biết được lý do vì sao người ta xem hoặc không xem các chương trình truyền hình hoặc một kênh truyền hình cụ thể.

Ngoài ra với những quốc gia rộng lớn và có nhiều thành phố và tỉnh thành khác nhau thì để đo lường khán giả bằng hai phương pháp trên phải tốn rất nhiều chí phí, trong khi người sử dụng số liệu thì ít. Do đó việc đo lường khán giả chỉ tập trung cho thị trường lớn.

Ở Việt Nam hơn 70% dân số tập trung ở vùng nông thôn và các thị trấn và thành phố nhỏ, đây là một thị trường tiềm năng cho các nhà sản xuất, để giúp cho người tiêu dùng nông thôn biết được các sản phẩm và dịch vụ của mình, các công ty cần nghiên cứu thói quen về truyền thông để xây dựng chiến lược và kế hoạch quảng cáo tiếp cận khách hàng một cách hiệu quả và tiết kiệm chi phí.

Ngoài ra các chủ kênh truyền hình mặc dù có được chỉ số khán già nhưng không biết được suy nghĩ và ý kiến của khán giả vì sao họ xem kênh này, chương trình này mà không xem kênh khác chương trình khác. Các nhà đài ngoài các chỉ số khán giả hàng năm cần thực hiện nghiên cứu định lượng về thói quen truyền thông để biết được mức độ hài lòng của khán giả đồng thời thu nhận góp ý của khán giả để điều chỉnh nội dung, cách làm truyền hình sao phù hợp với người xem.

Các chỉ số khán giả cũng không giúp được các doanh nghiệp, có phân khúc khán giả cao cấp, hoặc khán giả chuyên biệt đánh giá hiệu quả về các chiến lược truyền thông.

Giải pháp là các doanh nghiêp cần thuê các công ty nghiên cứu truyền thông để thiết kế nghiên cứu về định tính, định lượng để khảo sát thói quen truyền thông và đánh giá hiệu quả, tác động truyền thông của các chiến dịch truyền thông hoặc các chương trình truyền thông của mình.